PHÒNG GD ĐT GIO LINH
TRƯƠNG THCS GIO HẢI
ĐỀ THI THỬ VÀO THPT
NĂM HỌC 2020 - 2021
MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120’(Không kể thời gian giao đề)
Phần I: Trắc nghiệm khách quan (2,0 điểm)
Trong 8 câu sau mỗi câu có 4 phương án trả lời A, B, C, D; trong đó chỉ có 1 phương án đúng. Hãy chọn phương án đúng để viết vào tờ giấy làm bài.
Câu 1: Phần được gạch chân trong câu sau là thành phần gì?
“Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm”. (Nam Cao, Lão Hạc)
A. Thành phần khởi ngữ.
B. Thành phần tình thái
C. Thành phần cảm thán.
D. Thành phần phụ chú.
Câu 2: Trong câu thơ
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
Biện pháp tu từ nào đã được nhà thơ sử dụng?
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Nhân hoá.
D. Hoán dụ
Câu 3: Đoạn văn sau đây sử dụng phép liên kết nào.
“Con chó sói, bạo chúa của cừu, trong thơ ngụ ngôn của La Phông - ten cũng đáng thương chẳng kém. Đó là một tên trộm cướp, nhưng khốn khổ và bất hạnh”.
A. Phép lặp và phép đồng nghĩa.
B. Phép lặp và phép nối.
C. Phép thế và phép lặp.
D. Phép thế và phép đồng nghĩa.
Câu 4: Tình cảm chủ đạo trong bài thơ “Viếng lăng Bác” là gì?
A . Nỗi đau đớn tiếc thương của nhà thơ khi Bác không còn nữa.
B . Niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng thiết tha, thành kính của tác giả đối Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác.
C . Những xúc động của tác giả trong cuộc hành trình từ Nam ra Bắc thăm Bác
D . Những suy nghĩ về đất nước, quê hương của tác giả khi vào lăng viếng Bác
Câu 5: Trong các văn bản sau văn bản nào đề cập đến vấn đề hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc?
A. Phong cách Hồ Chí Minh.
B. Bàn về đọc sách.
C. Tiếng nói của văn nghệ.
D. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.
Câu 6: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) được sáng tác trong giai đoạn nào?
A. Giai đoạn 1945 - 1954.
B. Giai đoạn 1954 - 1964.
C. Giai đoạn 1964 - 1975.
D. Giai đoạn sau năm 1975.
Câu 7. Tác phẩm nào được kể theo ngôi thứ nhất trong số các truyện sau:
A. Làng .
B. Lặng lẽ Sa Pa.
C. Những ngôi sao xa xôi.
D. Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 8: Trong câu: “Không ai nói với ai, nhưng nhìn nhau, chúng tôi đọc thấy trong mắt nhau điều đó.” có mấy cụm động từ?
A. Hai cụm.
C. Bốn cụm.
B. Ba cụm.
D. Năm cụm.
Phần II: Tự luận (8,0 điểm)
Câu 1( 1 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu của đề:
“Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động.”
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)
a. Chỉ ra câu văn có chứa thành phần khởi ngữ.
b. Xác định những từ láy được dùng trong đoạn trích.
c. Hãy cho biết các câu trong đoạn trích trên được liên kết với nhau chủ yếu bằng phép liên kết nào?
d. Từ “tròn” trong câu “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn.” đã được dùng như từ thuộc từ loại nào?
Câu 2 ( 2 điểm)
Trong buổi giao lưu, trò chuyện với các thủ khoa tốt nghiệp xuất sắc của các trường đại học, học viện tại Hà Nội, Giáo sư Ngô Bảo Châu đã chia sẻ: “Tôi luôn tin rằng, trong mỗi thất bại có mầm mống của sự thành công”. Em có suy nghĩ gì về quan niệm trên.
Câu 3: (1 điểm)
Trong bài thơ “Nói với con” – Y Phương, người cha mong muốn con mình:
“Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc”.
Em hiểu như thế nào về nội dung 3 câu thơ trên?
Câu 4: (4,0 điểm)
Phân tích bài thơ Sang thu Hữu Thỉnh
(SGK Ngữ văn 9 tập 2, NXB Giáo dục, 2005)
TRƯƠNG THCS GIO HẢI
ĐỀ THI THỬ VÀO THPT
NĂM HỌC 2020 - 2021
MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120’(Không kể thời gian giao đề)
Phần I: Trắc nghiệm khách quan (2,0 điểm)
Trong 8 câu sau mỗi câu có 4 phương án trả lời A, B, C, D; trong đó chỉ có 1 phương án đúng. Hãy chọn phương án đúng để viết vào tờ giấy làm bài.
Câu 1: Phần được gạch chân trong câu sau là thành phần gì?
“Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm”. (Nam Cao, Lão Hạc)
A. Thành phần khởi ngữ.
B. Thành phần tình thái
C. Thành phần cảm thán.
D. Thành phần phụ chú.
Câu 2: Trong câu thơ
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
Biện pháp tu từ nào đã được nhà thơ sử dụng?
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Nhân hoá.
D. Hoán dụ
Câu 3: Đoạn văn sau đây sử dụng phép liên kết nào.
“Con chó sói, bạo chúa của cừu, trong thơ ngụ ngôn của La Phông - ten cũng đáng thương chẳng kém. Đó là một tên trộm cướp, nhưng khốn khổ và bất hạnh”.
A. Phép lặp và phép đồng nghĩa.
B. Phép lặp và phép nối.
C. Phép thế và phép lặp.
D. Phép thế và phép đồng nghĩa.
Câu 4: Tình cảm chủ đạo trong bài thơ “Viếng lăng Bác” là gì?
A . Nỗi đau đớn tiếc thương của nhà thơ khi Bác không còn nữa.
B . Niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng thiết tha, thành kính của tác giả đối Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác.
C . Những xúc động của tác giả trong cuộc hành trình từ Nam ra Bắc thăm Bác
D . Những suy nghĩ về đất nước, quê hương của tác giả khi vào lăng viếng Bác
Câu 5: Trong các văn bản sau văn bản nào đề cập đến vấn đề hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc?
A. Phong cách Hồ Chí Minh.
B. Bàn về đọc sách.
C. Tiếng nói của văn nghệ.
D. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.
Câu 6: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) được sáng tác trong giai đoạn nào?
A. Giai đoạn 1945 - 1954.
B. Giai đoạn 1954 - 1964.
C. Giai đoạn 1964 - 1975.
D. Giai đoạn sau năm 1975.
Câu 7. Tác phẩm nào được kể theo ngôi thứ nhất trong số các truyện sau:
A. Làng .
B. Lặng lẽ Sa Pa.
C. Những ngôi sao xa xôi.
D. Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 8: Trong câu: “Không ai nói với ai, nhưng nhìn nhau, chúng tôi đọc thấy trong mắt nhau điều đó.” có mấy cụm động từ?
A. Hai cụm.
C. Bốn cụm.
B. Ba cụm.
D. Năm cụm.
Phần II: Tự luận (8,0 điểm)
Câu 1( 1 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu của đề:
“Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động.”
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)
a. Chỉ ra câu văn có chứa thành phần khởi ngữ.
b. Xác định những từ láy được dùng trong đoạn trích.
c. Hãy cho biết các câu trong đoạn trích trên được liên kết với nhau chủ yếu bằng phép liên kết nào?
d. Từ “tròn” trong câu “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn.” đã được dùng như từ thuộc từ loại nào?
Câu 2 ( 2 điểm)
Trong buổi giao lưu, trò chuyện với các thủ khoa tốt nghiệp xuất sắc của các trường đại học, học viện tại Hà Nội, Giáo sư Ngô Bảo Châu đã chia sẻ: “Tôi luôn tin rằng, trong mỗi thất bại có mầm mống của sự thành công”. Em có suy nghĩ gì về quan niệm trên.
Câu 3: (1 điểm)
Trong bài thơ “Nói với con” – Y Phương, người cha mong muốn con mình:
“Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc”.
Em hiểu như thế nào về nội dung 3 câu thơ trên?
Câu 4: (4,0 điểm)
Phân tích bài thơ Sang thu Hữu Thỉnh
(SGK Ngữ văn 9 tập 2, NXB Giáo dục, 2005)
ĐÁP ÁN
Phần I: Trắc nghiệm khách quan (2,0 điểm)
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
ĐA D B D B A D C B
Mỗi câu trả lời đúng cho 0,25đ.
Phần II: Tự luận (8,0 điểm)
Câu 1":a.Câu có chứa thành phần khởi ngữ:
- Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động.
- Hoặc câu: Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh.
b. Từ láy trong đoạn trích: ngơ ngác, lạ lùng. 0.25đ
c. các câu trong đoạn trích trên được liên kết với nhau chủ yếu bằng phép liên kết: phép lặp từ ngữ. 0.25đ
d. Từ “tròn” trong câu “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn.” được dùng như động từ. 0.25đ
Câu 2 (2 điểm):
Về kĩ năng: - Học sinh phải xác định được đây là một bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
- Bố cục rõ ràng, kết hợp nhiều thao tác như giải thích, chứng minh, bình luận
- Văn viết trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, hạn chế lỗi chính tả
Về kiến thức: Học sinh phải đạt được những yêu cầu sau:
a/ Giải thích vấn đề cần bàn luận. + Thất bại nghĩa là không đạt được kết quả , mục đích như dự định.
+ Thành công là đạt được kết quả, mục đích như dự định
+ Mầm mống nghĩa ở đây là nguyên nhân, là bài học bổ ích mà ta nhận ra được từ sự thất bại đó.
=> Con người trước mỗi thất bại không nên thất vọng mà phải nhận ra được bài học để rồi đi đến thành công . 0.5đ
b/ Khẳng định vấn đề trên là đúng: Khẳng định: Quan niệm của giáo sư Ngô Bảo Châu là đúng đắn. Bởi vì:
+ Con đường đi đến thành công không phải lúc nào cũng bằng phẳng, xuôi dòng. Thất bại là điều khó tránh khỏi vì nhiều trở ngại do chủ quan, khách quan (Dẫn chứng). Điều quan trọng là phải biết chấp nhận thất bại bằng cách rút kinh nghiệm vì sao lại thất bại và xem đó là cơ hội để ta giàu thêm ý chí, nghị lực để vươn lên dẫn đến thành công ( Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần)
+ Trong cuộc sống, con người phải có niềm tin và nó chính là nền tảng để đi đến thành công. Thiếu niềm tin và nghị lực thì cuộc sống sẽ mất hết ý nghĩa. 1đ
c/ Những quan niệm không đúng, đi ngược lại lời khuyên.
+ Thất bại nhưng không rút ra được nguyên nhân để thành công.
+ Gục ngã, buông xuôi, nản chí trước thất bại.
+ Phê phán những người thiếu niềm tin, thiếu động lực vươn lên sau mỗi lần thất bại.
+ Gục ngã, buông xuôi, nản chí trước thất bại.
+ Phê phán những người thiếu niềm tin, thiếu động lực vươn lên sau mỗi lần thất bại.
( Không có việc gì khó…ắt làm nên)
d/ Mở rộng, và rút ra bài học:
+ Thất bại chưa hẳn đã hết; thành công chưa hẳn vội mừng. Người thông minh là người biết lấy thất bại của người khác làm bài học thành công cho mình. 0.25đ
Câu 3: (1 điểm)
A. Yêu cầu: Tư tưởng mà người cha muốn gửi đến con:
1. Ý nghĩa cụ thể → Dòng sông, dòng suối phải thích nghi với những địa hình khác nhau, vượt qua những trở ngại của thác, ghềnh. (0.5đ)
2. Ý nghĩa khái quát → Con người phải dám đương đầu với thử thách, gian khó trong cuộc sống.(0.5đ)
Câu 4(4,0 điểm)
1/- Nguyễn Khuyến với “chùm thơ thu” được Xuân Diệu coi là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” viết về thời điểm giữa thu (Đậm thu nhất). Xuân Diệu nổi tiếng với “Đây mùa thu tới” đang độ cuối thu.
- Nhà thơ Hữu Thỉnh nhạy cảm, tinh tế góp một tiếng thu với bài thơ “Sang thu” (1977) là khoảnh khắc giao mùa cuối hạ sang thu.
2/ khổ thơ 1: Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về sự chuyển mùa của thiên nhiên trong không gian làng quê: 1đ
Khổ thơ thứ nhất là những dự cảm mùa thu đã về được cảm nhận bằng nhiều giác quan:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”
- Trong biết bao nhiêu hương vị thân thuộc của làng quê, Hữu Thỉnh giật mình thảng thốt khi nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se (Nhẹ, khô, hơi lạnh) mang theo hương ổi (ổi đang vào độ chín).
- Từ “bỗng” như được reo lên trong niềm ngỡ ngàng ngạc nhiên. Từ bao giờ nhỉ, thu về ? Tất cả đến với tác giả nhẹ nhàng, mà đột ngột quá, thu về với đất trời quê hương, với lòng người mà không hề báo trước. Để rồi trong phút giây ngỡ ngàng, nhà thơ mới chợt nhận ta hương ổi : “Phả vào trong gió se”
- Hai chữ phả vào vừa gợi ra cái bất chợt trong cảm nhận, vừa gợi ra một cách thực thể cái hương thơm của ổi, lại vừa gợi ra sự vận động nhẹ nhàng của gió.
- Động từ “phả” sử dụng trong câu thơ thật hay. “Phả”: Là lan toả một cách từ từ, nhẹ nhàng vào trong không gian. Động từ “Phả” đã đem đến cho bức tranh giao mùa một sự nhạy cảm, tinh tế, một sức sống đến kì lạ.
Sự kỳ lạ, mới mẻ ấy vẫn được tiếp diễn trong mạch cảm xúc:
“Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
- Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm nơi đường thôn, ngõ xóm...Những tín hiệu mùa thu đến bất ngờ quá, khiến nhà thơ không thể tin nổi vào chính cảm nhận của mình nên ngỡ ngàng thốt lên:
Hình như thu đã về”
- Hai câu thơ mang âm hưởng thật nhẹ nhàng. Màn sương
thu qua từ láy gợi hình “chùng chình” (Như cố ý đi chậm lại) được nhân hoá như vẻ duyên dáng của nàng thiếu nữ . Màn sương ấy hiện ra trong mờ mờ ảo ảo như sắc màu cổ tích khiến cho cảnh vật nơi làng quê ngõ xóm trở thành một thế giới thần kì tuyệt diệu.
- “Hình như thu đã về” đã kết lại dòng xúc cảm bất ngờ đột ngột của nhà thơ. Tất cả những tín hiệu ở
trên cuối cùng rồi cũng đi đến một nghi vấn : thu đã về ? Từ “Hình như” diễn tả sự ngỡ ngàng, thảng thốt, thu đến với đất trời thật rồi sao ?
*Khái quát:
- Nếu “Bỗng nhận ra…” khơi nguồn cho dòng cảm xúc thì “Hình như” thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ mà Hữu Thỉnh vừa chợt phát hiện và cảm nhận.
- Từ điểm nhìn cận cảnh, cùng sự quan sát tinh tế, cảm nhận dấu hiệu thiên nhiên bằng khứu giác (hương ổi), xúc giác (gió se) và thị giác (màn sương), nhà thơ Hữu Thỉnh đã chứng tỏ một hồn thơ tinh tế nhạy cảm khi cảm nhận tiết giao mùa nơi làng quê thanh bình.
3/Phân tích khổ thơ 2: Sự chuyển mùa của thiên nhiên trong không gian, đất trời: 1đ
Nếu như khổ thơ thứ nhất là cảm xúc đột ngột, ngỡ ngàng khi nhận ra thu đang về với đất trời thì đến khổ thơ thứ hai Cảm xúc ấy tiếp tục lan toả, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã”
- Dòng sông trôi thanh thản, phẳng lặng, êm đềm hơn (Từ láy gợi hình “dềnh dàng” chỉ sự chuyển động chậm chạp)
- Cơn gió heo may đầu mùa tràn về khiến đàn chim phải vội vã bay về phương phương trời ấm áp hơn. (Về phía mặt trời)
- Phép đối và nghệ thuật tương phản giữa hai câu thơ (dềnh dàng><vội vã) đã được tác giả gửi gắm vào đó một triết lý : “Cái dềnh dàng là vẻ đẹp của ký ức, của thực tại con cái vội vã chính là sự mời gọi, thôi thúc của tương lai” (Nhà thơ tâm sự)
Dòng sông, cánh chim, đám mây...mùa thu đều được nhân hoá. Bức tranh thu trở nên hữu tình, thi vị:
“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
- “Đám mây mùa hạ” là hình ảnh độc đáo, thể hiện sự liên tưởng phong phú của tác giả. Dường như đám mây mùa thu còn vương nắng hạ nên nhà thơ mới có liên tưởng sáng tạo đến thế.
- Trong khoảnh khắc giao mùa, đám mây trên bầu trời cao đã trở thành ranh giới giữa mùa hạ với mùa thu. Động từ “vắt ” mang hiệu quả diễn đạt rất lớn. Nó làm cho đám mây kia như một giải lụa nối liền giữa hai mùa - mùa hạ và mùa thu. Từ cái giây phút giao mùa vô hình trừu tượng, tác giả đã biến thành sự vật hữu hình cụ thể để người đọc cảm nhận rõ hơn về tín hiệu của mùa thu.
4/Phân tích khổ thơ 3: Sự chuyển mùa của thiên nhiên và suy ngẫm của nhà thơ:
Từ những cảm nhận về mùa thu thiên nhiên, đất trời, cảm xúc của tác giả lắng vào chiều sâu suy tư, để chiêm nghiệm về cuộc đời:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
- Nắng cuối hạ vẫn còn nhưng độ nóng, độ chói không còn gay gắt.
- Cơn mưa nhẹ hạt hơn so với trận mưa rào xối xả những ngày hè đã qua.
- Sấm không còn bất thình lình nổi trận lôi đình nữa, hàng cây cũng như già dặn hơn.
=> Đó là những gì mà nhà thơ Hữu Thỉnh cảm nhận được về các hiện tượng thiên nhiên khi thu sang. Cái hay trong việc cảm nhận các hình ảnh này là : “nắng, mưa, sấm” không thể cân, đo ấy thế mà Hữu Thỉnh với các từ ngữ “Vẫn còn bao nhiêu, vơi, bớt” mang tính chất giảm nghĩa, nhà thơ đã biến chúng thành các vật có trọng lượng thực sự để đối chiếu so sánh với mùa hè.
*Sấm và hàng cây vừa có tính tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, chiều sâu của bài thơ nằm ở chiêm nghiệm, triết lí mà nhà thơ muốn gửi gắm:
- Sấm: tượng trưng cho những vang động bất thường của ngoại cảnh tác động.
- "Hàng cây đứng tuổi”: Chỉ những con người từng trải.
=> Cả đoạn mang ý nghĩa : con người từng trải luôn vững vàng trước những biến đổi, những bất thường của cuộc đời.
5/Đánh giá:
- Chỉ bằng 3 khổ thơ ngắn, với 10 hình ảnh quen thuộc (Nhân hoá, ẩn dụ), được cảm nhận qua nhiều giác quan với sự rung động tinh tế, nhạy cảm. Nhà thơ Hữu Thỉnh đã vẽ lên bức tranh giao mùa cuối hạ sang thu tuyệt đẹp ở Đồng bằng Bắc Bộ. ẩn đằng sau bức tranh thu giao mùa ấy là tình yêu quê hương, thiên nhiên tha thiết và những chiêm nghiệm, triết lý sâu sắc về cuộc đời mỗi con người.
- So sánh với một số bài thơ Thu khác để thấy đóng góp chung, riêng của Hữu Thỉnh
- Nét riêng, sáng tạo:
+ Rung cảm tinh tế, nhạy cảm trước khoảnh khắc giao mùa.
+ Thiên nhiên đẹp, trong sáng, tươi vui (Chứ không đẹp nhưng buồn như thơ mới) 0,75đ
6/- Khái quát lại giá trị, ý nghĩa của bài thơ.
- Cảm nhận suy nghĩ của bản thân. 0,25đ
d/ Mở rộng, và rút ra bài học:
+ Thất bại chưa hẳn đã hết; thành công chưa hẳn vội mừng. Người thông minh là người biết lấy thất bại của người khác làm bài học thành công cho mình. 0.25đ
Câu 3: (1 điểm)
A. Yêu cầu: Tư tưởng mà người cha muốn gửi đến con:
1. Ý nghĩa cụ thể → Dòng sông, dòng suối phải thích nghi với những địa hình khác nhau, vượt qua những trở ngại của thác, ghềnh. (0.5đ)
2. Ý nghĩa khái quát → Con người phải dám đương đầu với thử thách, gian khó trong cuộc sống.(0.5đ)
Câu 4(4,0 điểm)
1/- Nguyễn Khuyến với “chùm thơ thu” được Xuân Diệu coi là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” viết về thời điểm giữa thu (Đậm thu nhất). Xuân Diệu nổi tiếng với “Đây mùa thu tới” đang độ cuối thu.
- Nhà thơ Hữu Thỉnh nhạy cảm, tinh tế góp một tiếng thu với bài thơ “Sang thu” (1977) là khoảnh khắc giao mùa cuối hạ sang thu.
2/ khổ thơ 1: Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về sự chuyển mùa của thiên nhiên trong không gian làng quê: 1đ
Khổ thơ thứ nhất là những dự cảm mùa thu đã về được cảm nhận bằng nhiều giác quan:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”
- Trong biết bao nhiêu hương vị thân thuộc của làng quê, Hữu Thỉnh giật mình thảng thốt khi nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se (Nhẹ, khô, hơi lạnh) mang theo hương ổi (ổi đang vào độ chín).
- Từ “bỗng” như được reo lên trong niềm ngỡ ngàng ngạc nhiên. Từ bao giờ nhỉ, thu về ? Tất cả đến với tác giả nhẹ nhàng, mà đột ngột quá, thu về với đất trời quê hương, với lòng người mà không hề báo trước. Để rồi trong phút giây ngỡ ngàng, nhà thơ mới chợt nhận ta hương ổi : “Phả vào trong gió se”
- Hai chữ phả vào vừa gợi ra cái bất chợt trong cảm nhận, vừa gợi ra một cách thực thể cái hương thơm của ổi, lại vừa gợi ra sự vận động nhẹ nhàng của gió.
- Động từ “phả” sử dụng trong câu thơ thật hay. “Phả”: Là lan toả một cách từ từ, nhẹ nhàng vào trong không gian. Động từ “Phả” đã đem đến cho bức tranh giao mùa một sự nhạy cảm, tinh tế, một sức sống đến kì lạ.
Sự kỳ lạ, mới mẻ ấy vẫn được tiếp diễn trong mạch cảm xúc:
“Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
- Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm nơi đường thôn, ngõ xóm...Những tín hiệu mùa thu đến bất ngờ quá, khiến nhà thơ không thể tin nổi vào chính cảm nhận của mình nên ngỡ ngàng thốt lên:
Hình như thu đã về”
- Hai câu thơ mang âm hưởng thật nhẹ nhàng. Màn sương
thu qua từ láy gợi hình “chùng chình” (Như cố ý đi chậm lại) được nhân hoá như vẻ duyên dáng của nàng thiếu nữ . Màn sương ấy hiện ra trong mờ mờ ảo ảo như sắc màu cổ tích khiến cho cảnh vật nơi làng quê ngõ xóm trở thành một thế giới thần kì tuyệt diệu.
- “Hình như thu đã về” đã kết lại dòng xúc cảm bất ngờ đột ngột của nhà thơ. Tất cả những tín hiệu ở
trên cuối cùng rồi cũng đi đến một nghi vấn : thu đã về ? Từ “Hình như” diễn tả sự ngỡ ngàng, thảng thốt, thu đến với đất trời thật rồi sao ?
*Khái quát:
- Nếu “Bỗng nhận ra…” khơi nguồn cho dòng cảm xúc thì “Hình như” thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ mà Hữu Thỉnh vừa chợt phát hiện và cảm nhận.
- Từ điểm nhìn cận cảnh, cùng sự quan sát tinh tế, cảm nhận dấu hiệu thiên nhiên bằng khứu giác (hương ổi), xúc giác (gió se) và thị giác (màn sương), nhà thơ Hữu Thỉnh đã chứng tỏ một hồn thơ tinh tế nhạy cảm khi cảm nhận tiết giao mùa nơi làng quê thanh bình.
3/Phân tích khổ thơ 2: Sự chuyển mùa của thiên nhiên trong không gian, đất trời: 1đ
Nếu như khổ thơ thứ nhất là cảm xúc đột ngột, ngỡ ngàng khi nhận ra thu đang về với đất trời thì đến khổ thơ thứ hai Cảm xúc ấy tiếp tục lan toả, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã”
- Dòng sông trôi thanh thản, phẳng lặng, êm đềm hơn (Từ láy gợi hình “dềnh dàng” chỉ sự chuyển động chậm chạp)
- Cơn gió heo may đầu mùa tràn về khiến đàn chim phải vội vã bay về phương phương trời ấm áp hơn. (Về phía mặt trời)
- Phép đối và nghệ thuật tương phản giữa hai câu thơ (dềnh dàng><vội vã) đã được tác giả gửi gắm vào đó một triết lý : “Cái dềnh dàng là vẻ đẹp của ký ức, của thực tại con cái vội vã chính là sự mời gọi, thôi thúc của tương lai” (Nhà thơ tâm sự)
Dòng sông, cánh chim, đám mây...mùa thu đều được nhân hoá. Bức tranh thu trở nên hữu tình, thi vị:
“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
- “Đám mây mùa hạ” là hình ảnh độc đáo, thể hiện sự liên tưởng phong phú của tác giả. Dường như đám mây mùa thu còn vương nắng hạ nên nhà thơ mới có liên tưởng sáng tạo đến thế.
- Trong khoảnh khắc giao mùa, đám mây trên bầu trời cao đã trở thành ranh giới giữa mùa hạ với mùa thu. Động từ “vắt ” mang hiệu quả diễn đạt rất lớn. Nó làm cho đám mây kia như một giải lụa nối liền giữa hai mùa - mùa hạ và mùa thu. Từ cái giây phút giao mùa vô hình trừu tượng, tác giả đã biến thành sự vật hữu hình cụ thể để người đọc cảm nhận rõ hơn về tín hiệu của mùa thu.
4/Phân tích khổ thơ 3: Sự chuyển mùa của thiên nhiên và suy ngẫm của nhà thơ:
Từ những cảm nhận về mùa thu thiên nhiên, đất trời, cảm xúc của tác giả lắng vào chiều sâu suy tư, để chiêm nghiệm về cuộc đời:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
- Nắng cuối hạ vẫn còn nhưng độ nóng, độ chói không còn gay gắt.
- Cơn mưa nhẹ hạt hơn so với trận mưa rào xối xả những ngày hè đã qua.
- Sấm không còn bất thình lình nổi trận lôi đình nữa, hàng cây cũng như già dặn hơn.
=> Đó là những gì mà nhà thơ Hữu Thỉnh cảm nhận được về các hiện tượng thiên nhiên khi thu sang. Cái hay trong việc cảm nhận các hình ảnh này là : “nắng, mưa, sấm” không thể cân, đo ấy thế mà Hữu Thỉnh với các từ ngữ “Vẫn còn bao nhiêu, vơi, bớt” mang tính chất giảm nghĩa, nhà thơ đã biến chúng thành các vật có trọng lượng thực sự để đối chiếu so sánh với mùa hè.
*Sấm và hàng cây vừa có tính tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, chiều sâu của bài thơ nằm ở chiêm nghiệm, triết lí mà nhà thơ muốn gửi gắm:
- Sấm: tượng trưng cho những vang động bất thường của ngoại cảnh tác động.
- "Hàng cây đứng tuổi”: Chỉ những con người từng trải.
=> Cả đoạn mang ý nghĩa : con người từng trải luôn vững vàng trước những biến đổi, những bất thường của cuộc đời.
5/Đánh giá:
- Chỉ bằng 3 khổ thơ ngắn, với 10 hình ảnh quen thuộc (Nhân hoá, ẩn dụ), được cảm nhận qua nhiều giác quan với sự rung động tinh tế, nhạy cảm. Nhà thơ Hữu Thỉnh đã vẽ lên bức tranh giao mùa cuối hạ sang thu tuyệt đẹp ở Đồng bằng Bắc Bộ. ẩn đằng sau bức tranh thu giao mùa ấy là tình yêu quê hương, thiên nhiên tha thiết và những chiêm nghiệm, triết lý sâu sắc về cuộc đời mỗi con người.
- So sánh với một số bài thơ Thu khác để thấy đóng góp chung, riêng của Hữu Thỉnh
- Nét riêng, sáng tạo:
+ Rung cảm tinh tế, nhạy cảm trước khoảnh khắc giao mùa.
+ Thiên nhiên đẹp, trong sáng, tươi vui (Chứ không đẹp nhưng buồn như thơ mới) 0,75đ
6/- Khái quát lại giá trị, ý nghĩa của bài thơ.
- Cảm nhận suy nghĩ của bản thân. 0,25đ
HƯỚNG DẪN CHẤM CÓ TRONG FILE