Đề thi Ngữ Văn thử vào lớp 10 Trường Nguyễn Đình Chiểu năm học 2020-2021

TRƯỜNG THCS  NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
ĐỀ THI THỬ VÀO THPT
NĂM HỌC 2020 - 2021
MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120’(Không kể thời gian giao đề)

   
PHẦN I. Trắc nghiệm: (2đ)
 Đọc kĩ các câu hỏi dưới đây và chọn đáp án đúng nhất chép vào bài làm.
Câu 1: Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa vào cốt truyện nào?
A. Truyền kì mạn lục
B. Kim Vân Kiều truyện
C. Hoàng  Lê nhất thống chí
D. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh
Câu 2: Từ  “đầu” trong dòng nào sau đây được dùng theo nghĩa gốc?
A. Đầu bạc răng long.
B. Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc.
C. Đầu súng trăng treo.
D. Đầu sóng ngọn gió.
Câu 3: Hai câu ca dao sau sử dụng biện pháp tu từ nào?
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Nhân hoá
 D. Hoán dụ
Câu 4: Trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, khi ông Sáu về thăm nhà, vì sao bé Thu không nhận cha?
A. Vì tám năm xa cách quá lâu
B. Vì bác Ba nói với bé Thu đó không phải là cha của Thu.
C. Vì khuôn mặt của ông Sáu có vết thẹo dài khác với bức ảnh chụp cùng má.
D. Vì trông mặt ông quá xấu.
Câu 5: Đoạn trích “Con chó Bấc” được trích từ tác phẩm nào?
A. Nanh trắng.
B. Tiếng gọi nơi hoang dã.
C. Chiếc lá cuối cùng.
D. Cố hương.
Câu 6: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải sáng tác vào năm nào?
A. 1965
B. 1970
C. 1975
D. 1980
Câu 7: Nhận định nào sau đây nói đúng về khởi ngữ?
A. Khởi ngữ là thành phần chính của câu.
B. Khởi ngữ luôn đứng sau chủ ngữ.
C. Khởi ngữ đứng trước chủ ngữ và nêu lên đề tài được nói đến trong câu.
D. Khởi ngữ là thành phần duy trì cuộc giao tiếp.
Câu 8: Trong phần thân bài của dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, người viết cần:
A. Phân tích, đánh giá từng câu thơ.
B. Phân tích, đánh giá những giá trị nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
C. Phân tích, đánh giá những giá trị nội dung  của đoạn thơ, bài thơ.
D. Phân tích, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
Phần II: Tự luận (8,0 điểm)
Câu 1: (1,0 điểm)
Hãy chỉ ra những thành phần biệt lập và nêu tác dụng của chúng trong các câu văn sau:
a/ Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài.
(Trích “Lặng lẽ Sa Pa”- Nguyễn Thành Long)
b/ Họa sĩ thầm nghĩ: “Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét tước dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”.
(Trích “Lặng lẽ Sa Pa”- Nguyễn Thành Long)
Câu 2: (2,0 điểm)
Tự lập là một trong những đức tính tốt của con người. Em hãy viết một đoạn văn từ 15 đến 20 câu để bàn về tính tự lập.
Câu 3: (5,0 điểm):
“Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ”.
(Ngữ văn lớp 9, tập I, trang 51)
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ để làm sáng tỏ nhận định trên.

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI KHẢO SÁT VÀO THPT
NĂM HỌC: 2020-2021
Môn: Ngữ văn 


PHẦN I. Trắc nghiệm: (2,0 điểm)
Mỗi phương án trả lời đúng cho 0,25 điểm. Sai không cho điểm
Câu    1    2    3    4    5    6    7    8
Đáp án    B    A    A    C    B    D    C    D
PHẦN II. TỰ LUẬN: (8,0 điểm)
Câu  1    Học sinh chỉ rõ thành phần biệt lập:
a, Chao ôi: Thành phần cảm thán
- Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên đến bất ngờ của ông hoạ sĩ về anh thanh niên.
b, Chắc: Thành phần tình thái
Khẳng định sự nhận định, đánh giá ở mức độ tin cậy cao của nhà hoạ sĩ với anh thanh niên.   
* Yêu cầu về hình thức
 Học sinh biết trình bày một đoạn văn nghị luận phù hợp với yêu cầu đề bài: Dài từ 15-20 câu, sử dụng các thao tác lập luận phù hợp, có sự liên kết chặt chẽ giữa các câu trong đoạn văn, không sai lỗi chính tả, lỗi câu.
* Yêu cầu về nội dung:
Học sinh cần làm rõ các ý sau:
- Giới thiệu nội dung nghị luận: Tự lập là một trong những đức tính tốt của con người.
- Giải thích: tự lập là gì? ( Tự đứng một mình, không có sự giúp đỡ của người khác. Tự lập là tự mình làm lấy mọi việc, không dựa vào người khác).
     Người có tính tự lập là người biết tự lo liệu, tạo dựng cuộc sống cho mình mà không ỷ lại, phụ thuộc vào mọi người xung quanh.
- Phân tích, chứng minh
  + Tự lập là đức tính cần có đối với mỗi con người khi bước vào đời. (Dẫn chứng)
  +Trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng có cha mẹ ở bên để dìu dắt, giúp đỡ ta mỗi khi gặp khó khăn. Vì vậy, cần phải tập tính tự lập để có thể tự mình lo liệu cuộc đời bản thân. (Dẫn chứng)
   + Người có tính tự lập sẽ dễ đạt được thành công, được mọi người yêu mến, kính trọng. (Dẫn chứng)
- Mở rộng
 + Phê phán những người không có tính tự lập: Tự lập là một phẩm chất để khẳng định nhân cách, bản lĩnh và khả năng của một con người. Chỉ biết dựa dẫm vào người khác sẽ trở thành một gánh nặng cho người thân và cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa. Những người không có tính tự lập, cứ dựa vào người khác thì khó có được thành công thật sự. Cho nên ngay cả trong thế giới động vật, có những con thú đã biết sống tự lập sau vài tháng tuổi.
+ Mở rộng: tự lập không có nghĩa là tự tách mình ra khỏi cộng đồng. Có những việc chúng ta phải biết đoàn kết và dựa vào đồng loại để tạo nên sức mạnh tổng hợp.
+ Liên hệ bản thân: cần phải rèn luyện khả năng tự lập một cách bền bỉ, đều đặn. Để có thể tự lập, bản thân mỗi người phải có sự nỗ lực, cố gắng và ý chí mạnh mẽ để vươn lên, vượt qua thử thách, khó khăn, để trau dồi, rèn luyện năng lực, phẩm chất.
    Nếu mọi người đều biết sống tự lập kết hợp với tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn và cuộc sống mỗi người sẽ được hạnh phúc.
Câu 3:Phân tích nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương”để làm sáng tỏ nhận định.     5,0 đ
    Đây là kiểu bài phân tích nhân vật có định hướng: niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của Vũ Nương và sự khẳng định vẻ đẹp truyền thống của nàng (số phận của Vũ Nương rất điển hình cho người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến và vẻ đẹp của nàng cũng chính là vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam). Học sinh có thể chọn bố cục bài viết một cách sáng tạo khác nhau, nhưng việc phân tích phải hướng vào yêu cầu của đề.   
    a)Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả và “Chuyện người con gái Nam Xương”.    0,25 đ
    - Tác giả: Nguyễn Dữ là người sống ở thế kỷ XVI, thời kì triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê Mạc, Trịnh giành quyền bính, gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi xin nghỉ về nhà nuôi mẹ già và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời.
- Tác phẩm: “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong 20 truyện của “Truyền kỳ mạn lục” (Ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ vẫn được lưu truyền). “Truyền kỳ mạn lục” được viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian và truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam. Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát cuộc sống bình yên, hạnh phúc, nhưng các thế lực tàn bạo cùng lễ giáo phong kiến khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất và bất hạnh.   
    b)Thân bài:  Phân tích nhân vật Vũ Nương để làm sáng tỏ nhận định    4,0đ
    b1. Số phận oan nghiệt của Vũ Nương    2,0 đ
    - Tình duyên ngang trái    0,25 đ
    Nguyễn Dữ đã cảm thương cho Vũ Nương- người phụ nữ nhan sắc và đức hạnh lại phải lấy Trương Sinh, một kẻ vô học hồ đồ vũ phu. Thương tâm hơn nữa, người chồng còn “có tính đa nghi” nên đối với vợ đã “phòng ngừa quá sức”.   
    - Mòn mỏi đợi chờ, vất vả gian lao.    0,75 đ
    Đọc tác phẩm, ta thấy được nỗi niềm đau đớn của nhà văn với Vũ Nương – người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là sự xót xa cho hoàn cảnh éo le của người phụ nữ: lấy chồng chưa được bao lâu, “chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh”, nàng đã phải tiễn biệt chồng lên đường đi đánh giặc Chiêm. Cảnh tiễn đưa chồng của Vũ Nương mới ái ngại xiết bao. Nàng rót chén rượu đầy ứa hai hàng lệ: “Chàng đi chuyến này... mẹ hiền lo lắng”. Thật buồn thương cho Vũ Nương, trong những ngày vò võ một mình ngóng trông tin chồng với bao nhớ thương vời vợi: “Mỗi khi...ngăn được”. Hẳn rằng Nguyễn Dữ vô cùng đau đớn cho Vũ Nương nên chỉ cần một câu văn ấy cũng đủ làm người đọc cảm thấy xót xa với người mệnh bạc có chồng chia xa. Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong thời phong kiến loạn lạc: “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu – Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong...” (Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm). Trương Sinh đi, để lại gánh nặng gia đình, để lại gánh nặng cho người vợ trẻ. Vũ Nương thay chồng vất vả nuôi mẹ, nuôi con. Sau khi mẹ chồng mất, chỉ còn hai mẹ con Vũ Nương trong căn nhà trống vắng cô đơn. Đọc đến những dòng tả cảnh đêm, người vợ trẻ chỉ biết san sẻ buồn vui với đứa con thơ dại, chúng ta không khỏi chạnh lòng thương xót cho mẹ
con nàng.   
- Cái chết thương tâm.    0,75 đ
Qua năm sau, “Việc quân kết thúc ”,Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trở về ,nhưng Vũ Nương không được hưởng hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum họp. Chỉ vì chuyện chiếc bóng qua miệng đứa con thơ mới tập nói mà Trương Sinh lại đinh ninh rằng vợ mình hư hỏng nên “mắng nhiếc” và “đánh đuổi đi”. Trương Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời bày tỏ van xin đến rớm máu của vợ, mọi sự “biện bạch” của họ hàng làng xóm. Vũ Nương bị chồng đẩy vào bi kịch, bị vu oan là người vợ mất nết hư thân: “Nay đã bình rơi... Vọng Phu kia nữa”. Bi kịch Vũ Nương là bi kịch gia đình từ chuyện chồng con, nhưng nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh loạn lạc gây nên. Chỉ  một thời gian ngắn, sau khi Vũ Nương tự tử, một đêm khuya dưới ngọn đèn, chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại đến kia kìa”. Lúc bấy giờ Trương Sinh “mới tỉnh ngộ thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi”. Người đọc xưa cũng chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ xót thương cho người con gái Nam Xương và bao phụ nữ bạc mệnh khác trong cõi đời.   
- Nỗi oan cách trở     0,25 đ
Hình ảnh Vũ Nương ngồi kiệu hoa, phía sau có năm mươi chiếc xe cờ tán võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện... là những chi tiết hoang đường, nhưng đã tô đậm nỗi đau của người phụ nữ “bạc mệnh” duyên phận hẩm hiu, có giá trị tố cáo lễ giáo phong kiến vô nhân đạo. Câu nói của hồn ma Vũ Nương giữa dòng sông vọng vào: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” làm cho nỗi đau của nhà văn thêm phần bi thiết. Nỗi oan tình của Vũ Nương được minh oan và giải toả, nhưng âm – dương đã đôi đường cách trở, nàng chẳng thể trở lại nhân gian và cũng không bao giờ còn được làm vợ, làm mẹ.   
b2. Vẻ đẹp truyền thống của Vũ Nương    2,0 đ
- Người con gái “thuỳ mị, nết na” và “tư dung tốt đẹp”     0,25 đ
Tác giả đã giới thiệu về Vũ Nương với một chi tiết thật ngắn gọn, khái quát “Tính đã thùy mị, nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Nàng là một cô gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về.   
- Người vợ thuỷ chung    0,75 đ
+ Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là một người phụ nữ khéo léo, đôn hậu, biết chồng có tính “đa nghi” nàng đã “giữ gìn khuôn phép” không để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hoà”.   
+ Khi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy chúc chồng “được hai chữ bình yên”. Nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ. Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Vũ Nương còn thể hiện niềm cảm thông trước nỗi vất vả, gian lao mà chồng phải chịu đựng và nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình: “Nhìn trăng soi... bay bổng”   
+ Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ dài theo năm tháng.   
+ Khi bị chồng nghi oan, nàng đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Nàng còn nói đến thân phận mình và nghĩa tình vợ chồng để khẳng định tấm lòng thuỷ chung trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là đã hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ. Nàng nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để tỏ rõ là người phụ nữ “đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn son”, mãi mãi soi tỏ với đời “vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mì”. Ở dưới thuỷ cung, tuy Vũ Nương có oán trách Trương Sinh, nhưng nàng vẫn thương nhớ chồng con, quê hương và khao khát được trả lại danh dự: “Có lẽ không thể ... tìm về có ngày”.   
- Người mẹ hiền, dâu thảo    0,75 đ
+ Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang và giàu tình thương mến. Chồng ra trận mới được một tuần, nàng đã sinh con. Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ. Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã “hết lời thương xót”, việc ma chay tế lễ được lo liệu, tổ chức rất chu đáo.   
+ Lời của người mẹ chồng trước lúc chết chính là lời ghi nhận công ơn của nàng với gia đình nhà chồng: “Sau này... chẳng phụ mẹ”. Đó là cách đánh giá thật xác đáng và khách quan. Xưa nay cũng hiếm có lời xác nhận tốt đẹp của mẹ chồng đối với nàng dâu. Điều đó chứng tỏ Vũ Nương là một nhân vật có phẩm hạnh hoàn hảo, trọng đạo nghĩa làm vợ, làm dâu và làm mẹ. Tác giả khẳng định một lần nữa trong lời kể: “Nàng hết lời ... cha mẹ đẻ mình”.   
- Người phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến    0,25 đ
Qua hình tượng Vũ Nương, người đọc thấy trong  Vũ Nương cùng xuất hiện ba con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu thảo, người vợ đảm đang chung thủy, người mẹ hiền đôn hậu. Ở nàng, mọi cái đều sáng tỏ và hoàn hảo đến mức tuyệt vời. Đó là hình ảnh người phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.   
*) Đánh giá    0,5 đ
- Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật: Tình huống truyện đầy bi kịch để bộc lộ số phận oan nghiệt, vẻ đẹp phẩm chất đáng quý ở Vũ Nương. Cách dẫn dắt truyện tự nhiên, bất ngờ. Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật đặc sắc.
- Nhấn mạnh lại đặc điểm nhân vật, ý nghĩa nhân vật trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm. Vũ Nương là hiện thân cho số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời là lời tố cáo xã hội phong kiến bất công.Tác giả rất thành công khi chọn đề tài người phụ nữ dựa trên câu chuyện về tình cảm vợ chồng, hôn nhân, hạnh phúc trong xã hội xưa.
c, Kết bài:
- Những vẻ đẹp của Vũ Nương rất tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay. Thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của Vũ Nương và khẳng định vẻ đẹp truyền thống của nàng, tác phẩm đã thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
- Liên hệ so sánh với những tác phẩm viết về nỗi bất hạnh của người phụ nữ và ca ngợi vẻ đẹp của họ: Văn học dân gian, “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, “Chinh phụ ngâm” – Đoàn Thị Điểm, “Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiều...    
* Lưu ý câu 3   
- Hành văn lưu loát, có dẫn chứng cụ thể, biết phân tích đánh giá, không mắc lỗi diễn đạt mới cho điểm tối đa mỗi ý.   
- Nếu mắc từ 5 lỗi diễn đạt trở lên trừ từ 0,25 đến 0,5 điểm   
HƯỚNG DẪN CHẤM CÓ TRONG FILE



Tải về WORD | PDF
Nếu link tải bị lỗi, bạn có thể tải về link dự phòng sau: Link Box |